Bản dịch của HIẾU TÂN

Jean Piaget (1896 – 1980)  Jean Piaget là một nhà khoa học Thuỵ Sĩ, sinh ở Neuchâtel (Thuỵ Sĩ) ngày 9 tháng Tám năm 1896. Là một đứa trẻ sớm tinh khôn và sáng láng, ông viết những trang đầu tiên của mình ở tuổi 11 về
loài chim sẻ bạch tạng. Ông tiếp tục viết và nghiên cứu suốt cuộc đời, tạo ra hơn một trăm cuốn sách và luận văn. Sau khi học khoa học tự nhiên ở Đại học, trong cuộc sống sau này Piaget quan tâm nhiều đến tâm phân
học và trắc nghiệm trí thông minh. Nghiên cứu của ông về tâm lí phát
triển và nhận thức luận tổng quát có một mục đích duy nhất: để hiểu tri
thức phát triển như thế nào. Piaget nổi tiếng nhất về nghiên cứu sự phát
triển nhận thức ở trẻ em, rút ra từ những nghiên cứu quan sát của ông về những đứa con nhỏ của ông. Ông được công nhận là đã cung cấp bằng
chứng đầu tiên rằng tư duy của trẻ em khác về chất với tư duy người lớn. 

GIỚI THIỆU

Trong gần 50 năm, thuyết hành vi – trường phái tư duy theo các thuyết Phản xạ có điều kiện (PXCĐK) cổ điển và Hành vi tùy thuộc hậu quả – (đã thảo lụân ở Chương 3) vẫn là một sức mạnh áp đảo trong giáo dục. Việc dạy học trên lớp chủ yếu dựa vào học vẹt và học gạo (học vẹt và học gạo chủ yếu là nhai lại các bảng nhân, đánh vần, v.v..) trong niềm tin rằng điều đó sẽ khuyến khích học tập. Sử dụng cách này, các thầy giáo có thể kiểm tra trí nhớ trẻ em về các sự kiện, như các chữ cái, các màu, đánh vần và bảng nhân. Phê phán quan điểm của thuyết hành vi, Piaget cho rằng nó chỉ khuyến khích trẻ em lặp lại những chuỗi vô nghĩa và những “mẹo xiếc” mà không nâng cao hiểu biết (Piaget, 1952). Ông thích khám phá việc học thông qua những hoạt động thực tế. Hãy xem Jack 3 năm 2 tháng tuổi đang học các mầu ở cô bảo mẫu. Hàng ngày cô giáo sắp ra một hàng các khối màu sắc khác nhau, cô bảo Jack nhắc lại các mầu theo cô trước khi yêu cầu nó chỉ đúng khối mầu đỏ hoặc vàng. Mặc dầu làm rất tốt nhiệm vụ này, các quan sát về Jack cho thấy nó chưa biết các mầu. Chơi với Sam bạn nó, Jack cầm một chiếc ô tô lên và hỏi: “Chiếc xe này màu xanh dương hay xanh lục?” Bạn nó xem xét một hồi rồi nói “Xanh dương. Bố tớ có một chiếc xe màu xanh dương nên tớ biết nó mầu xanh dương”. Cô giáo nhận ra Jack chỉ nhắc lại những từ mà không liên hệ các mầu với tên của chúng. Những tuần sau, cô giáo của Jack đưa ra một số trò chơi và hoạt động nhằm củng cố kiến thức của các em về mầu. Cô liên hệ các câu chuyện với mầu và đưa ra một bảng mầu thay đổi mỗi tuần. Sau một thời gian ngắn, người ta thấy Jack nói về mầu rất tự tin.

Năm 1953 Piaget xuất bản một cuốn sách có tên là Kiến tạo Thực tại ở Trẻ em (Sự xây dựng Cái thực ở trẻ – HH dịch, NXB Tri Thức 2017). Trong cuốn sách này, Piaget mô tả một đứa trẻ như một nhà khoa học cô độc tạo ra cảm giác riêng của nó về thế giới. Theo Piaget, kiến thức được người biết xây dựng nên dựa trên hoạt động tinh thần. Lí thuyết của ông gọi là thuyết kiến tạo (constructivism – một lí thuyết về kiến thức cho rằng con người tạo nên kiến thức và nghĩa từ tương tác giữa những kinh nghiệm và những ý tưởng của họ) đưa ra thách thức lớn đầu tiên với thuyết hành vi. Lí thuyết này có tầm ảnh hưởng rộng lớn vì nó đưa ra một trong những thuyết đầu tiên về sự nảy nở và phát triển tư duy của trẻ em.

Thật thú vị khi xem làm thế nào một nhà khoa học quan tâm đến thế giới tự nhiên lại trở thành nổi tiếng như “một người khổng lồ của khoa nuôi dạy trẻ” (Elkind, 1972). Là một sinh viên đầy hứa hẹn, Piaget thấy bản thân ông làm việc cho Theodor Simon, đồng tác giả của một trong những trắc nghiệm trí thông minh đầu tiên trên thế giới. Làm việc trong phòng thí nghiệm của Binet về tiêu chuẩn hoá các mục trắc nghiệm, Piaget thấy các kiểu sai lầm trẻ em mắc phải trên các mục trắc nghiệm thú vị hơn những câu trả lời đúng. Ông tin rằng sai lầm liên quan đến lứa tuổi chứ không phải ngẫu nhiên và tin rằng những sai lầm ấy cho ta hiểu thấu cách trẻ em nghĩ và học. Công việc này dẫn ông đến kết luận rằng tư duy của trẻ em khác một cách căn bản với tư duy người lớn và trẻ em nhỏ hơn nghĩ khác trẻ em lớn hơn. Những điều khẳng định này được xem là cách mạng trong thời của chúng. Nhiều người đương thời với Piaget không chịu thừa nhận quan niệm này và bác bỏ điều khẳng định rằng tư duy của trẻ nhỏ tiến hoá và thay đổi với lứa tuổi và kinh nghiệm. Không quan tâm đến cuộc tranh cãi, trong vòng 50 năm Piaget tiếp tục tinh chỉnh và phát triển lí thuyết của mình. Trong những cuộc điều tra nghiên cứu của ông, ông dựa trên công trình của James Mark Baldwin (1861 – 1934) một trong những nhà tâm lí học đầu tiên quan tâm đến sự phát triển nhận thức ở tuổi ấu trĩ và tuổi nhỏ. Những thuật ngữ “điều tiết”, “thích nghi” thường được gán cho Piaget ban đầu là do Baldwin nghĩ ra.

Định nghĩa

Thích nghi: Liên quan đến sự thay đổi hoặc sửa lại cho hợp với một sơ đồ, một ý tưởng hay một quan niệm hiện có để theo một kiến thức mới. Piaget tin rằng trẻ em học bằng cách tự sửa cho hợp, bao gồm đồng hoá và thích nghi

Đồng hoá: Theo Piaget, “đồng hoá là hợp nhất những yếu tố bên ngoài vào trong một cấu trúc đang tiến triển hoặc đã hoàn thành” (Piaget, 1970, tr 706) Ông muốn nói rằng thông tin mới được bổ sung vào các sơ đồ hoặc các phạm trù hiện có. Đồng hoá là một quá trình chủ động và lựa chọn.

Sơ đồ (Cấu trúc sơ khai): Piaget dùng thuật ngữ sơ đồ để mô tả đơn vị cơ bản của hành vi trí tuệ. Đó là một quá trình chủ động lựa chọn sắp xếp thông tin vào những phạm trù đơn giản. Các sơ đồ không cố định mà tiến triển và phát triển cùng với kinh nghiệm.

Cân bằng: Đứa trẻ tìm cách cân bằng giữa môi trường bên ngoài và các quá trình suy nghĩ bên trong. Mất cân bằng là sự không tương xứng giữa hai cái đó.

   Piaget tránh các phương pháp thí nghiệm trong phòng thí nghiệm mà những người theo thuyết hành vi ưa thích. Thay vì thế, ông quan sát sự phát triển của trẻ em (dùng ba đứa con của chính ông làm điểm xuất phát) trong môi trường tự nhiên của chúng và ghi lại những thay đổi nhỏ nhất trong những hành động của chúng. Ông cũng chăm chú nghe những lời bọn trẻ giải thích khi chúng hoàn thành một loạt nhiệm vụ. Piaget tin rằng trẻ con bắt đầu suy nghĩ trước khi chúng có ngôn ngữ để bộc lộ những ý nghĩ của chúng. Tư duy ban đầu nguyên sơ hơn và non nớt hơn tư duy sau này, và có dạng các sơ đồ gói gọn một số sơ đồ con. Chẳng hạn, một bé 4 tuổi 8 tháng có thể có một sơ đồ rung phối hợp vào trong nó một sơ đồ con lắc hoặc một sơ đồ con lay đồ chơi. Sutherland (1992, tr 33) dùng phép tương tự sau đây để giải thích lí thuyết của Piaget: đúng như việc một đứa bé lớn lên quyết định kích cỡ và dáng của quần áo mà nó cần, tư duy của đứa trẻ cũng quyết định ngôn ngữ mà nó cần. Ngôn ngữ trong quan điểm của Piaget chỉ là một công cụ dùng để phát triển và nâng cao tư duy. Ông tin rằng những tiếng nói thuở ấu thơ là biểu hiện những nhu cầu và mong muốn của đứa trẻ và ông gọi nó là tự kỉ (autistic). Ngôn ngữ tự kỉ được thay thế bằng ngôn ngữ ‘lấy mình làm trung tâm’ (egocentric). Ngôn ngữ sau nói lên những hành động và vận động của đứa trẻ, chẳng hạn “con sẽ ngồi trên chiếc ghế to với mẹ”. Khi đứa trẻ ngày càng có ý thức về những mong đợi của xã hội thì ngôn ngữ vị kỉ sẽ mờ đi và ngôn ngữ sẽ chủ quan hoá. Piaget đặt tầm quan trọng của phát triển ngôn ngữ thấp hơn tầm quan trọng của phát triển nhận thức, ông giải thích đây là bằng chứng rằng đứa trẻ đang trở nên bớt vị kỉ.

                                                                     →    4. hoạt động hình thức (11-15 tuổi)

                                                                      →    3.  hoạt động cụ thể (7-11 tuổi)

                                                                      →    2.  tiền-hoạtđộng (2-7 tuổi)

                                                                      →   1.  cảm giác vận động (0-2 tuổi)

                      Hình 4.1 Các giai đoạn phát triển nhận thức, theo Piaget

Có hai xu hướng quan trọng nằm bên dưới phát triển nhận thức của Piaget. Một là, ông tin rằng đứa trẻ dấn mình một cách mạnh mẽ và chủ động vào quá trình học. Hai là, sự phát triển nhận thức đi theo một loạt giai đoạn và giai đoạn nhỏ. Những giai đoạn và giai đoạn nhỏ này trong của lí thuyết Piaget là bất biến, có nghĩa là mỗi đứa trẻ phải tiến bộ lần lượt qua các giai đoạn và giai đoạn nhỏ này. Nó không thể bỏ qua một giai đoạn, cũng không thể quay trở lại giai đoạn trước. Nếu bạn tưởng tượng một đứa trẻ trên cái thang trên đây (Hình 4.1) nó bắt đầu từ bậc thứ nhất rồi leo lên bậc kế tiếp rồi kế tiếp nữa cho đến khi lên đỉnh chiếc thang. Không có điểm bước ra ngoài và nếu bạn hình dung một hàng (kiến thức và kinh nghiệm) tích tụ sau đứa trẻ thì không có điểm quay lại. Một khía cạnh khác trong lí thuyết của Piaget bị nhiều người phê phán liên quan đến điều ông khẳng định rằng, bất kể văn hoá và dòng giống của chúng như thế nào, trẻ em đi theo cùng một con đường phát triển nhận thức. Từ ‘phổ biến’ thường được dùng để nói về quan điểm này.

GIAI ĐOẠN CẢM GIÁC VẬN ĐỘNG (0-2 tuổi)

Giai đoạn đầu của phát triển nhận thức được gọi là giai đoạn cảm giác vận động. Cái tên này lấy từ kiến thức ban đầu đứa bé có được thông qua cảm giác của nó khi bú, lắc, nắm và quan sát. Piaget tin rằng những đứa bé mới đẻ không có khả năng tư duy, thay vì thế chúng đắm vào hoạt động phản thân. Phần lớn những phản thân nguyên sơ này được coi là bẩm sinh bao gồm các phản xạ bú và bám chặt. Quan sát tỉ mỉ những đứa con của chính ông, Piaget nhận thấy rằng, ngay trong những tháng tuổi đầu tiên, các phản xạ cơ bản của bé bị thay đổi bởi kinh nghiệm. Chẳng hạn đứa bé liên tục quay đi cho đến khi nó ngậm được núm vú của chai sữa. Trong một vài tuần, vận động của đứa trẻ bớt đi tính ngẫu nhiên và cố ý nhiều hơn, khiến nó có thể tìm được đầu vú nhanh hơn. Giai đoạn cảm giác vận động được chia thành 6 giai đoạn nhỏ:

1. Phản thân (0-1 tháng)

    Đây là giai đoạn quan trọng nhất và được đánh dấu bằng hoạt động phản thân đơn giản như nắm và bú. Nhiều trong số những hoạt động phản thân này được cho là bẩm sinh và vô cùng thiết yếu đối với sự sống còn của đứa bé.

2. Vòng nguyên thuỷ (1-4 tháng)

    Các hoạt động trong giai đoạn này tập trung vào cơ thể của đứa trẻ. Gọi là ‘nguyên thuỷ’ vì chúng là những thói quen vận động xuất hiện đầu tiên, và ‘vòng’ vì các hoạt động thích thú có xu hướng lặp lại.

3. Vòng thứ hai (4-8 tháng)

    Các hoạt động trong giai đoạn này cũng lặp lại vì thích thú. Trái ngược với giai đoạn trước, đứa trẻ bắt đầu nhận ra những sự vật thích thú xảy ra trong môi trường. chẳng hạn, tình cờ đá phải cái nôi chuyển động, đứa bé thấy nó lắc qua lắc lại. Mặc dầu đứa bé có thể lặp lại động tác này nhiều lần, Piaget cho rằng đây không phải là một hành vi cố ý mà chỉ tình cờ phát hiện.

4. Phối hợp các sơ đồ thứ hai (8-12 tháng)

    Các hành vi chủ quan và có kế hoạch bắt đầu xuất hiện khi đứa bé bắt đầu thao tác môi trường. Chẳng hạn, đứa trẻ nhoài ra với chai sữa, đặt vào mồm và uống. Trong việc liên kết hai động tác nâng và nắm, đứa trẻ bắt đầu phối hợp các chuyển động rời rạc trước đó không liên hệ với nhau để đạt mục đích. Tính lâu bền của đồ vật bắt đầu xuất hiện trong giai đoạn này, có nghĩa là một đứa trẻ hiểu rằng đồ chơi ẩn dưới chăn không mất đi mà có thể mở ra lấy lại được.

5. Vòng thứ ba (12 đến 18 tháng)

    Lẽ ra lặp lại hoạt động để tạo ra cùng hiệu quả, thì đứa trẻ bắt đầu thử tạo ra kết quả của riêng nó. Chẳng hạn, sau khi gõ vào chiếc cốc của nó, Nitta thấy sữa tràn ra. Nâng chiếc cốc lên, nó quay lộn ngược chiếc cốc và lắc để sữa đổ ra. Giai đoạn này báo hiệu xuất hiện trí tò mò.

6. Bắt đầu tư duy biểu hiện (18 – 24 tháng)

     Giai đoạn này đánh dấu bước chuyển quan trọng trong phát triển trí tuệ. Giải quyết vấn đề bắt đầu xuất hiện thông qua kết hợp các dấu hiệu, biểu tượng và hình ảnh trí tuệ. Ngồi trên băng ghế xe hơi khi từ nhà trẻ trở về, bé Lydia mở ra và gập vào các ngón tay của nó và chuyển động lên xuống, nó bắt chước “con nhện tí xíu” leo lên ống máng. 

Mô tả giai đoạn cảm giác vận động của Piaget giải thích tại sao trong hai năm ngắn ngủi, một đứa trẻ tiến bộ từ những vận động phản thân nguyên sơ như nắm và mút trở thành một người giải quyết vấn đề thực nghiệm. Tuy nhiên, mô hình này không giải thích được lí do đằng sau sự chuyển từ giai đoạn cảm giác vận động sang giai đoạn tiền hoạt động trình bày dưới đây.

GIAI ĐOẠN TIỀN HOẠT ĐỘNG (2-7 tuổi)

Theo Piaget, tư duy của một đứa trẻ tiếp tục phát triển thông qua giai đoạn tiền hoạt động. Khi ngôn ngữ phát triển, các sơ đồ trở nên chung hơn. Giai đoạn này trong lí thuyết của Piaget bị phê bình là tập trung vào những hạn chế trong tư duy của trẻ nhỏ chứ không vào tiến bộ của chúng (Meadow, 1993). Giai đoạn tiền hoạt động có hai giai đoạn nhỏ, thời kì tiền nhận thức (2-4 tuổi) và giai đoạn trực giác (4-7 tuổi)

Thời kì tiền nhận thức (2-4 tuổi)

  Trong thời kì tiền nhận thức, đứa bé đắm mình vào chơi tưởng tượng và biểu tượng. Các biểu tượng có thể là hình ảnh và lời nói nói về một cái gì đó khác, như Piaget kể lại quan sát đứa con gái của ông Jacqueline đang chơi:

Lúc 21 tháng tuổi, Jacqueline trong thấy một chiếc vỏ sò và nói “tách ”. Sau khi nói thế bé nhặt nó lên và giả vờ uống. Hôm sau, vẫn thấy chiếc vỏ sò đó, nó nói “cốc” rồi “tách” rồi “mũ” và cuối cùng là “thuyền”. Ba ngày sau nó lấy một chiếc hộp rỗng và đẩy đi đẩy lại, miệng nói “motycar” (xe ô tô) (Pyaget, 1962, tr 124)

Những quan sát đứa bé cho thấy trong thời kì này chúng đã đắm mình vào trò chơi giả vờ tin là thật, và hành vi bắt chước. Nện giày cao gót lọc cọc, Piers giả vờ làm một bà mẹ đang đi mua hàng, trong khi Jenna giả vờ làm bác sĩ chăm sóc một em bé ốm. Đối với Piaget, vui chơi, đặc biệt là vui chơi bằng tưởng tượng, là một khía cạnh quan trọng của phát triển nhận thức. Tuy nhiên, tư duy trong giai đoạn này bị giới hạn bởi một số nhân tố, bao gồm: lấy mình làm trung tâm, vật linh, sự cứng nhắc của suy nghĩ và suy luận sai. Mỗi cái được khảo sát dưới đây.

Lấy mình làm trung tâm

 Đứa trẻ không có khả năng hiểu thế giới từ một điểm nhìn khác. Chẳng hạn, trong trò chơi trốn tìm, Ben 2 tuổi 4 tháng dùng tay bịt mắt mình. Khi Ben không nhìn thấy người khác, nó tin rằng người khác cũng không nhìn thấy nó. Piaget chứng minh thuyết này bằng thí nghiệm “cảnh 3 ngọn núi” (Hình 4.2) trên đây (Piaget và Inhelder, 1956).

 Trong thí nghiệm này, một đứa bé lần đầu tiên được cho xem một cảnh núi bằng cac tông từ một số góc. Một búp bê được đặt đối diện với một đứa bé, rồi người ta yêu cầu nó tả xem bup bê thấy gì. Đứa bé có thể chọn điểm nhìn của bup bê từ một tập tranh. Trong suốt thí nghiệm, trẻ em khăng khăng chọn bức tranh phản ánh cái nhìn của chính nó về cảnh núi. Dựa trên chứng cớ từ hàng loạt thí nghiệm tương tự với trẻ nhỏ, Piaget kết luận rằng trong giai đoạn tiền hoạt động trẻ nhỏ không có cảm giác đồng cảm với những tình cảm hoặc suy nghĩ của người khác (khả năng hiểu và đồng nhất với những tình cảm, suy nghĩ và động cơ của người khác) 

Vật linh

   Theo Piaget, lối nghĩ lấy mình làm trung tâm tràn ngập mọi khía cạnh của tư duy của trẻ nhỏ là nguyên nhân của lối suy nghĩ vật linh gán tình cảm cho đồ vật. Chẳng hạn, mọi buổi tối Josh, 2 năm 8 tháng tuổi xếp hàng những chiếc ô tô của nó. Nó chạm tay lần lượt vào từng cái và nói “đêm rồi, ngủ đi, ngủ đi” nó xếp chặt các ô tô lại với nhau để cho chúng khỏi cô đơn vào ban đêm. Khẳng định của Piaget rằng trẻ em ở giai đoạn tiền hoạt động chỉ biết lấy mình làm trung tâm bị phê phán nhiều hơn bất cứ khẳng định nào khác của ông. Đối thủ nặng kí nhất của ông là Vưgotsky (1986) theo sau là Donalson (1978) và những người khác.

   Hughes (1978) thử lại thuyết Piaget bằng cách dùng một tấm màn hình chữ thập, với một chú cảnh sát đồ chơi đặt bên phải đứa bé. Bên trái, một búp bê được đặt sao cho chú cảnh sát không nhìn thấy những thứ đứa bé nhìn thấy. Sau khi thử, gần như tất cả trẻ em từ ba tuổi rưỡi đến 5 tuổi đều trả lời đúng khi nào thì cảnh sát nhìn thấy khi nào không nhìn thấy búp bê. Trái với khẳng định của Piaget, Hughes kết luận rằng trẻ em ở tuổi này có thể lấy điểm nhìn của người khác.

   Donalson (1978) đặc biệt phê phán những câu hỏi Piaget hỏi trẻ em. Bà cho rằng những câu hỏi ấy được diễn đạt theo cách để bẫy trẻ con chứ không phải giúp cho chúng. Hỗ trợ cho quan điểm này là một nghiên cứu gần đây hơn về vật linh cho thấy trẻ em không gặp khó khăn để hiểu sự khác nhau giữa các sinh vật và các đồ vật khi từ “sống” được thay bằng những từ ít mơ hồ hơn như “thở” (Leddon et al, 2008) Leddon et al kết luận rằng từ “sống” che đi sự hiểu của trẻ em về chính cái khái niệm đang được nghiên cứu.

Tính cứng nhắc của suy nghĩ và suy diễn tuỳ tiện[1].

Trong giai đoạn tiền hành động, suy nghĩ còn bị hạn chế hơn nữa bởi sự cứng nhắc trong suy nghĩ và suy diễn tuỳ tiện. Sự cứng nhắc trong suy nghĩ là trẻ em không có khả năng đảo ngược thứ tự và không có khả năng điều chỉnh đối với những thay đổi bề ngoài. Chẳng hạn, Deven đang chơi với khay nước, nó thấy Anya rót nước từ ca màu đỏ sang ca màu xanh rồi lại rót về ca màu đỏ. Khi cô giáo hỏi ca nào nhiều nước hơn, cả hai đứa đềuchỉ ca đỏ. Chúng tin thế là vì ca đỏ cao hơn ca xanh. Trẻ em trong giai đoạn tiền hành động khó khăn trong việc điều chỉnh đối với những thay đổi bề ngoài. Dùng những chứng cớ từ thí nghiệm với trẻ em chưa đến tuổi đến trường, Schaffer, (2004, tr 176) minh hoạ điểm này. Người ta cho chúng xem một con chó và yêu cầu chúng nhận dạng con vật. Chúng trả lời đúng là một con chó. Trong lúc trẻ con đang nhìn, người ta đeo một chiếc mặt nạ mèo cho con chó. Khi hỏi tên con vật, phần lớn trả lời là con mèo. Điều thú vị là mỗi lần người ta lấy mặt nạ ra và đeo lại, trẻ con đều trả lời đổi từ mèo sang chó .

Thí dụ Bé Deven 3 tuổi 2 tháng buồn khi thấy bố nó, Sanja, đã cạo mất bộ râu của anh. Deven  muốn có một “người bố chân chính”. Sanja giải thích rằng anh chính là “người bố chân chính” đây, nhưng Deven từ chối an ủi và đòi bố nó phải đưa bộ râu về như cũ. 

Suy diễn tuỳ tiện diễn ra khi đứa bé suy luận về những mối quan hệ không hề có. Chẳng hạn, Carey có một em bé trong bụng của cô ấy. Bụng của cô ấy rất to và béo. Do đó, chú Melvin có em bé trong bụng bởi vì chú ấy có một chiếc bụng to béo. Quả bóng của Joe tròn, mặt trời cũng tròn do đó Joe kết luận rằng mặt trời là một quả bóng. Suy diễn tuỳ tiện bắt đầu mất đi ở khoảng 4 tuổi (Lefrancois, 1995), nhưng suy nghĩ ở đoạn sau của tiền hành động vẫn còn tính trực giác hơn là logic. Suy nghĩ trực giác dựa trên những thuộc tính cảm giác như hình dáng kích thước.

Thời kì trực giác (4- 7 tuổi)

Giai đoạn nhỏ này chỉ tiến bộ rất ít trong tư duy tiền nhận thức. Trẻ em nhìn toàn cảnh tốt hơn tập trung vào những khía cạnh của cảnh. Piaget gọi đây là khả năng “phân tán chú ý”. Tuy nhiên, suy nghĩ của đứa trẻ bị hạn chế bởi việc nó không có khả năng chuyển chú ý từ toàn thể sang bộ phận và trở lại toàn thể. Trong thí dụ dưới đây, Olga bắt đầu phân tán chú ý của nó trên toàn nhóm – những tờ giấy – trước khi tập trung vào nhóm nhỏ – màu.

       Thí dụ Bé Olga 4 tuổi đang sắp xếp những tờ giấy thành tập theo màu. Hỏi bé đang làm gì đấy, bé trả lời rằng bé đang xếp những tờ giấy thành tập màu vàng và tập màu xanh. Hỏi có phải nhiều tờ giấy màu xanh hơn tờ màu vàng không, Olga trả lời đúng rằng màu xanh nhiều hơn. Hỏi: “các tờ màu xanh nhiều hơn hay các tờ giấy nhiều hơn?” Olga trả lời: màu xanh. Tập trung chú ý vào xếp màu, Olga thấy khó chuyển sự chú ý của nó trở lại cả nhóm – những tờ giấy 

   Piaget cũng tin rằng việc hiểu các nhiệm vụ bảo toàn của trẻ em tiền-hoạtđộng bị hạn chế vì chúng không có khả năng chuyển tập trung ra ngoài những dấu hiệu thị giác như kích thước và hình dáng. Trong nhiệm vụ bảo toàn dưới đây (hình 4.3) người ta cho một đứatrẻ coi 2 cốc nước và nó nhất trí rằng lượng nước trong 2 cốc bằng nhau. Khi người ta rót nước từ một cốc sang một chiếc cốc ngắn hơn nhưng rộng hơn, đứa trẻ tiền-hoạtđộng cho rằng lượng nước không bàng nhau và chiếc cốc cao hơn chứa nhiều nước hơn.

                                    A            B             C                    D

Hình 4.3  Nhiệm vụ bảo toàn nước 

            Định nghĩa

Bảo toàn là nguyên tắc các lượng giữ nguyên không đổi cho dù biểu hiện bề ngoài của chúng thay đổi.

Piaget cho rằng khả năng bảo toàn đánh dấu kết thúc giai đoạn tiền-hoạtđộng và bắt đầu các hoạt động cụ thể. Trẻ em trong thời kì sau của giai đoạn tiền-hoạtđộng hỏi vô tận những câu hỏi và hiểu sự khác nhau giữa tưởng tượng và thực tại. Những người phê phán cho rằng kết thúc giai đoạn tiền-hoạt động của Piaget chủ yếu được xác định bởi những gì đứa trẻ không thể làm hơn là những gì nó có thể làm (Sutherland, 1992).

GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG CỤ THỂ (7-11 tuổi)

Sự khác nhau chủ yếu giữa giai đoạn tiền-hoạt động và giai đoạn hoạt động cụ thể là trẻ em bây giờ có thể dùng các qui tắc logic để giải quyết vấn đề. Theo Piaget, các qui tắc hoạt động tiến triển dần dần và có thứ tự khi các kĩ năng đơn giản được củng cố, kết hợp và tổ chức lại thành những cấu trúc ngày càng phức tạp. Bây giờ trẻ em đã có khả năng đảo ngược ý nghĩ của nó để giải quyết vấn đề. Điều này làm cho tư duy linh hoạt và hiệu quả hơn, mặc dầu nó bị hạn chế bởi nhu cầu của đứa trẻ cần có một biểu hiện cụ thể của những ý nghĩ tinh thần. Bằng ví dụ, Josh làm phép cộng 6+9. Đầu tiên nó đếm đến 6, sau đó đếm thêm 9. Nó làm thế nhiều lần nhưng vẫn để mất dấu các con số. Sau đó nó dùng một loạt thẻ đếm và nhanh chóng tìm ra 6+9=15.

   Tính liên tục và tính bắc cầu là những dấu mốc khác của giai đoạn hoạt động cụ thể. Tính liên tục sắp thứ tự các đồ vật hoặc các khái niệm theo một đặc điểm nhất định như chiều cao, trọng lượng hay tốc độ.  Liên quan chặt chẽ với tính liên tục tính bắc cầu là khả năng tìm ra những mối quan hệ, như: Nếu Sean bé hơn Jamie nhưng lớn hơn Ashley, Ashley lại lớn hơn Ahmed, thì ai lớn nhất?

  Như đã nói ở trên trẻ em tiền-hoạt động có vẻ gặp khó khăn trong việc nắm bắt khái niệm bảo toàn. Trong khi trẻ em có khả năng hiểu một số dạng của bảo toàn nào đó, thì những dạng khác tỏ ra khó khăn hơn. Nhiệm vụ bảo toàn nước minh hoạ ở trên liên quan đến bảo toàn chất lỏng và đứa trẻ 6,7 tuổi có thể hiểu được. Tuy nhiên, bảo toàn trọng lượng thì đứa trẻ 9 tuổi vẫn chưa hiểu, trong khi bảo toàn thể tích thì đến 11 vẫn chưa hiểu (Piaget, 1969). Trắc nghiệm việc hiểu bảo toàn trọng lượng của bạn bằng câu đố sau đây: một tấn chì và một tấn bông, cái nào nặng hơn?

   Việc hiểu bảo toàn thể tích đòi hỏi nhận ra rằng năm khối băng chiếm chỗ của cùng một thể tích nước như một khối băng lớn có kích thước và trong lượng bằng năm khối băng đó. Thừa nhận rằng một số dạng bảo toàn có vẻ dễ hiểu hơn những dạng khác, Piaget nghĩ ra thuật ngữ “độ chênh ngang” (horizontal decalage) để giải thích những bước phát triển không nhất quán trong việc học của trẻ em. 

Định nghĩa

Độ chênh ngang:Có nhiều cách hiểu ý nghĩa của thuật ngữ độ chênh ngang; tuy nhiên, có thể hiểu như thuật ngữ dùng để mô tả sự thực hiện không nhất quán về nhừng nhiệm vụ đòi hỏi những hoạt động trí não tương tự. Chẳng hạn một đứa trẻ có thể hiểu có 10 chiếc kẹo trong một hàng nhưng nó không hiểu cùng con số đó trong những dạng khác.

(còn tiếp)


[1]transductive: suy nghĩ của đứa trẻ chỉ tập trung vào những trường hợp cụ thể và không theo logic (như qui nạp [inductive]hay diễn dịch [deductive]).